Tiến sĩ Ngô Đức Phương, Viện trưởng Viện Khoa học thuốc nam cho biết, bồ công anh Việt Nam có tên khoa học Lactuca indica, thuộc họ cúc (Asteraceae), khác với bồ công anh châu Âu (Taraxacum officinale). Ở nước ta, Lactuca indica là cây quen thuộc, dùng làm rau, dược liệu trong các chứng nhiệt, gan mật và tiêu hóa.

Trong  y học cổ truyền, bồ công anh có vị đắng, ngọt, tính mát, tác dụng thanh nhiệt. Ngoài ra, loại cây này còn được sử dụng giải độc, mát gan, hỗ trợ người mắc bệnh viêm gan, nóng trong, nổi mụn, hỗ trợ tiêu hóa, giảm đầy bụng. Đặc biệt, bồ công anh còn được dân gian dùng trong các trường hợp viêm vú, tắc tia sữa.

Trong đời sống, lá và ngọn bồ công anh non có thể ăn như rau (luộc, nấu canh) và toàn cây phơi khô sắc nước uống.

Cây bồ công anh. Ảnh: N. Huyền

Các nghiên cứu bước đầu cho thấy trong cây bồ công anh chứa các flavonoid, sesquiterpen lacton, polyphenol có hoạt tính chống oxy hóa, chống viêm, hỗ trợ bảo vệ gan và kháng khuẩn mức độ nhẹ.

Một số nghiên cứu thực nghiệm ghi nhận, bồ công anh có tác dụng hỗ trợ giảm tổn thương gan do stress oxy hóa, giảm phản ứng viêm trong mô gan và tiêu hóa.

Điều này phù hợp với kinh nghiệm dân gian dùng bồ công anh để giúp mát gan, giải độc, hỗ trợ tiêu hóa. Tuy nhiên, Tiến sĩ Phương nhấn mạnh các bằng chứng lâm sàng trên người còn hạn chế, chủ yếu ở mức hỗ trợ.

Cách dùng phổ biến cây bồ công anh là có thể ăn như rau (luộc, nấu canh, ăn sống) hoặc sắc nước uống khi nóng trong, có thể phối hợp với các vị khác trong bài thuốc mát gan, giải độc.

Tuy nhiên, chuyên gia lưu ý người tỳ vị hư hàn, hay tiêu chảy nên dùng vừa phải và không thay thế điều trị khi viêm gan nặng. Phụ nữ mang thai cần thận trọng khi dùng loại cây này kéo dài.

Theo Vietnamnet