Công nghệ giác mạc sinh học sẽ giúp 500 nghìn người mù Việt Nam hồi phục thị lực

Với số lượng người mù lên tới 500 nghìn tại Việt Nam, nếu được tái tạo sức lao động sẽ đóng góp 0,3-0,4% vào tăng trưởng GDP, đồng thời nâng cao chỉ số hạnh phúc của người dân.

Sáng 4/4, Hội thảo khoa học quốc tế về giác mạc sinh học đã được tổ chức tại Hà Nội, thu hút sự tham gia của nhiều chuyên gia nhãn khoa, nhà quản lý y tế và nhà nghiên cứu công nghệ sinh học.

Sự kiện không chỉ mang ý nghĩa học thuật mà còn được xem là dấu mốc quan trọng trong quá trình kết nối nguồn lực chuyên môn, hướng tới mục tiêu đưa các công nghệ mới trong lĩnh vực giác mạc vào ứng dụng thực tiễn tại Việt Nam.

Đưa công nghệ sinh học giải quyết vấn đề thực tiễn

Tiến sĩ Vương Ánh Dương, Phó Cục trưởng Cục Quản lý Khám, chữa bệnh (Bộ Y tế) cho biết, bệnh lý về giác mạc là một trong những nguyên nhân hàng đầu gây mù lòa nhưng có thể điều trị, khôi phục được thị lực của người bệnh bằng phương pháp can thiệp ghép giác mạc.

Tiến sĩ Vương Ánh Dương cho rằng, việc tìm kiếm giải pháp thay thế như giác mạc nhân tạo hay vật liệu sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu, mở ra thêm cơ hội điều trị cho người bệnh. Ảnh: Hoàng Hiệp

Theo Bộ Y tế, Việt Nam ước tính có trên trên 500.000 người bị mù do bệnh lý giác mạc và có nhu cầu cần ghép giác mạc. Tại Bệnh viện Mắt Trung ương con số chờ ghép cũng lên tới hàng trăm ngàn trường hợp.

Những năm qua, ngành nhãn khoa, đã nỗ lực xây dựng ngân hàng giác mạc và vận động hiến tặng từ người chết não, ghi nhận nhiều câu chuyện giàu tính nhân văn.

Tuy nhiên, nhu cầu ghép giác mạc ngày càng tăng trong khi nguồn hiến vẫn rất hạn chế, ước tính chỉ đáp ứng 1-2% so với nhu cầu, khiến nhiều bệnh nhân phải chờ đợi kéo dài, thậm chí mất cơ hội điều trị.

Với các ca bệnh nặng hoặc thất bại ghép nhiều lần, phương pháp truyền thống cũng dần bộc lộ hạn chế.

Trong bối cảnh đó, việc tìm kiếm giải pháp thay thế như giác mạc nhân tạo hay vật liệu sinh học đang trở thành xu hướng tất yếu, mở ra thêm cơ hội điều trị cho người bệnh.

Đại diện Bộ Y tế cũng cho biết cơ quan này đã tiếp nhận hồ sơ xin cấp phép lưu hành đối với sản phẩm giác mạc sinh học tại Việt Nam.

Đây được xem là bước tiến quan trọng trong việc đưa công nghệ mới vào thực tiễn, góp phần giải quyết bài toán thiếu hụt nguồn giác mạc hiến tặng

Giác mạc sinh học sẽ giải quyết vấn đề thực tiễn về thiếu hụt nguồn cung giác mạc tại Việt Nam. Ảnh minh hoạ

Ở góc độ chuyên môn, PGS.TS Lê Xuân Cung, Trưởng khoa Giác mạc, Bệnh viện Mắt Trung ương, dẫn số liệu từ Ngân hàng Mắt cho thấy trong giai đoạn 2023–2025, khoảng 300 giác mạc đã được thu nhận để phục vụ phẫu thuật ghép, riêng năm 2025 đạt 188 giác mạc.

Tuy nhiên, con số này vẫn còn rất khiêm tốn so với nhu cầu ngày càng gia tăng. Hiện nay, nguồn giác mạc chủ yếu vẫn phụ thuộc vào người hiến trong nước, vốn còn hạn chế cả về số lượng và tính ổn định.

Trong khi đó, số lượng bệnh nhân bị mù do bệnh lý giác mạc có xu hướng tích lũy theo thời gian.

Việc triển khai phẫu thuật ghép giác mạc cũng chưa thể mở rộng trên diện rộng do nhiều rào cản về nguồn cung, cơ sở vật chất và nhân lực chuyên môn.

Đáng chú ý, trong một số trường hợp cấp cứu cần ghép giác mạc để bảo tồn nhãn cầu, việc không có sẵn giác mạc hiến khiến bác sĩ buộc phải thực hiện các biện pháp cuối cùng như bỏ nhãn cầu.

“Trước thực trạng này, cần triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, bao gồm tăng cường vận động hiến tặng giác mạc trong cộng đồng, mở rộng hợp tác với các ngân hàng mắt quốc tế, đồng thời phát triển các nguồn vật liệu thay thế như giác mạc sinh học hoặc giác mạc bảo quản lâu dài. Trong đó, giác mạc sinh học được đánh giá là hướng đi mang tính đột phá”, PGS.TS Lê Xuân Cung nói.

Ý nghĩa nhân văn sâu sắc và giúp phát triển tăng trưởng kinh tế

Phát biểu tại hội thảo, GS.TS Tôn Thị Kim Thanh, Chủ tịch Hội Nhãn khoa Việt Nam, nhấn mạnh rằng giác mạc sinh học là một trong những hướng phát triển có tiềm năng lớn của y học hiện đại.

Đây không chỉ là một phát minh khoa học mà còn là vật liệu y sinh tiên tiến, góp phần mở rộng đáng kể các lựa chọn thay thế trong điều trị các bệnh lý giác mạc.

Trong bối cảnh nguồn giác mạc hiến tặng còn hạn chế, việc nghiên cứu và ứng dụng giác mạc sinh học được kỳ vọng sẽ giúp ngành nhãn khoa từng bước chủ động hơn trong điều trị lâm sàng.

Theo chuyên gia, để một công nghệ mới như giác mạc sinh học có thể triển khai hiệu quả, yếu tố quyết định không chỉ nằm ở bản thân công nghệ mà còn ở năng lực tổ chức hệ thống triển khai.

Điều này đòi hỏi sự phối hợp chặt chẽ giữa các bệnh viện chuyên khoa mắt, đội ngũ chuyên gia giác mạc và các đơn vị nghiên cứu, phát triển công nghệ giác mạc sinh học.

Đại diện Hội đồng khoa học Công ty VGCT trình bày về dự án giác mạc sinh học Việt Nam tại hội thảo. Ảnh: Hoàng Hiệp

Đại diện hội đồng khoa học Công ty Gen và tế bào gốc Việt Nam (VGCT) dẫn số liệu từ báo cáo của Cơ quan quốc tế phòng chống mù loà thế giới (IAPB) vào năm 2025 cho thấy, việc đầu tư cho thị lực mang lại hiệu quả kinh tế vượt trội.

Theo tính toán, với mỗi 1 USD đầu tư cho cải thiện thị lực sẽ tạo ra 28 USD giá trị kinh tế.

Cũng theo đại diện VGCT, với số lượng bệnh nhân ước tính lên tới 500 nghìn người tại Việt Nam hiện nay, nếu được khôi phục thị lực sẽ trực tiếp đóng góp 0,3-0,4% vào tăng trưởng GDP mỗi năm.

Đây là nguồn lực đáng kể góp phần hiện thực hoá mục tiêu tăng trưởng 2 con số mà Đảng và Chính phủ đang đặt ra.

“Ở quy mô xã hội, điều này góp phần nâng cao chất lượng sống, gia tăng chỉ số hạnh phúc của người dân, đồng thời tạo ra giá trị kinh tế khi một bộ phận người mất thị lực được quay trở lại lực lượng lao động.

Nếu được triển khai ở quy mô quốc gia, với sự tham gia đồng bộ của “ba nhà”, lĩnh vực này hoàn toàn có thể trở thành một trong những động lực đóng góp vào mục tiêu tăng trưởng hai con số, đặc biệt trong các ngành công nghệ cao và y sinh”, đại diện VGCT nói.

theo Vietnamnet