Nguyên quán có thể là nơi ta không sinh ra nhưng cha ông ta từng “chôn nhau cắt rốn” ở đó.
Nói một cách ngắn gọn, đó là nơi gốc rễ, là quê, là quán, là nơi ta có thể trở về bất cứ lúc nào, kể cả khi mãn nguyện cuộc đời.
Cách đây hơn 30 năm, tôi từng viết truyện ngắn “Nguyên quán”. Đó là một câu chuyện về người phụ nữ con nhà địa chủ sau cải cách ruộng đất buộc phải rời quê vì mất hết mọi thứ. Lý do rời khỏi nguyên quán còn là nỗi hận. Rời khỏi làng quê, người phụ nữ có lời nguyền không bao giờ trở lại.
Câu chuyện rất buồn nhưng lại có một cái kết hậu. Người phụ nữ khi lòng đầy sân hận và tròng vào cuộc đời lời nguyền độc địa, đã nỗ lực vươn lên gây dựng lại cơ đồ. Anh con trai được sinh ra từ những ngày gian khó, lớn lên trưởng thành, không thể hiểu được vì sao mẹ mình lại không trở về quê. Nhưng cứ mỗi chiều khi hoàng hôn tắt nắng, bà lại đứng trên triền đê nhìn về chỉ một hướng. Đó là quê hương, nơi bà đã phát lời nguyền từ bỏ.
Từ bỏ nhưng người phụ nữ lại định hướng con trai trở thành một kỹ sư nông nghiệp và bà bằng mọi cách đưa con trở về đúng nguyên quán. Anh con trai có năng lực, vị thế và ở cương vị của mình đã mang lại những thay đổi, nguồn lợi cho làng quê nguyên quán.
Tại đây, anh có một tình yêu bị mẹ ngăn cản, đó là vì dích dắc quá khứ. Người anh yêu là con cháu những người khiến mẹ anh sân hận. Sau đó, người con trai hóa giải được lời nguyền, cho dù anh vẫn mãi không lý giải được vì sao mẹ mình lại quyết liệt từ bỏ quê hương, bản quán dai dẳng đến thế.
Phải đến khi người phụ nữ rời khỏi cõi đời, để lại tấm chứng minh thư có dòng đề nguyên quán và di nguyện được trở về làng thì người con trai mới hiểu rằng, mẹ mình, cho dù có nhận về bao biến thiên cuộc đời, vẫn không thôi đau đáu hướng về quê cha đất tổ. Anh đưa mẹ về làng và làm theo di nguyện, hóa tấm chứng minh thư mẹ để lại, rắc vào huyệt mộ. Nguyên quán là thế, thiêng liêng với mỗi một đời người.
Tôi viết câu chuyện này cũng bởi những lý do riêng. Gia đình tôi mấy đời đã sống ở Hà Nội. Nhưng gốc rễ của tôi là dòng họ Phạm nhiều đời ở làng Xâm Dương, Ninh Sở, Hà Tây cũ.
Lúc nhỏ, tôi hay được bố đưa về quê thăm thú họ hàng. Chiến tranh bùng nổ, tôi được đưa về quê mẹ Hà Nam sơ tán. Hết chiến tranh, tôi trở lại Hà Nội đi học, lớn lên vào bộ đội rồi trở về. Cuộc sống mưu sinh không có dịp cho tôi trở về làng quê cũ của mình.
Cũng bởi nhịp cầu “bắc” tôi về nguyên quán – là bố tôi – bị tai biến nên ông không đủ minh mẫn dẫn dắt cậu con trai về quê hương bản quán. Gia đình không còn nhà cửa ở quê, mối liên hệ chỉ còn là nghĩa địa dòng họ. Ngày cha tôi mất, được đưa về làng, họ hàng và dân làng ra đưa tiễn, tôi mới vỡ ra rằng lâu nay mình đã bị cắt rời nguồn cội. Tôi ân hận và thấm thía biết bao nhiêu với ý nghĩa của nguyên quán, của quê cha đất tổ.
Trong tấm chứng minh thư cũ một dạo có mục đề: nguyên quán. Theo cách hiểu thông thường, nguyên quán là nơi được coi là gốc gác của mỗi người theo khai sinh được tính về bên nội. Vẫn có những trường hợp lấy quê mẹ là nguyên quán theo khai sinh nhưng số này không nhiều.

Sự trở về nguyên quán muộn mằn khiến tôi có nhiều trăn trở và trong tâm thế ấy, tôi đã viết truyện ngắn “Nguyên quán”, gói lại những thăng trầm và nỗi niềm của người xa quê.
Một lần, trong chuyến đi châu Âu, tôi ăn tối ở một quán người Việt ở Brussels (Bỉ). Tối đó, tôi ngồi nói chuyện rất lâu với anh chồng chủ quán. Anh nói mình là người Bắc, theo bố mẹ di cư vào Nam năm 1954 rồi sang đây trước khi chiến tranh kết thúc.
Khi được hỏi quê ở vùng nào, anh buồn bã nói mình không còn quê. Anh từng theo những gì bố mẹ để lại tìm về quê gốc nhưng bất thành. Bây giờ sống yên ổn, có điều kiện, anh chỉ ước ao tìm được quê gốc để sau này nếu rời cõi tạm sẽ về an nghỉ. Ước mơ của anh rất khó thành hiện thực và đó là thiệt thòi lớn nhất của đời người.
Lời nguyền nào cũng có lời giải
Năm 1975, khi đất nước thống nhất, nhiều người di tản ra nước ngoài. Sau này, hàng triệu người gốc Việt xa xứ đã trở về nước thăm thú quê hương, bản quán. Trong số những người tha hương, vẫn có người mang niềm sân hận như nhân vật người phụ nữ trong truyện ngắn “Nguyên quán” và nguyện không bao giờ trở về.
Chiến tranh, có rất nhiều gia đình chuyển đi và đến cả hai miền. Lứa tôi có nhiều bạn bè là người theo gia đình tập kết từ Nam ra Bắc hoặc được sinh ra trên đất Bắc. Tất nhiên trong giấy tờ nguyên quán của họ phải là nơi gốc rễ cha ông.
Hòa bình, nhiều gia đình trở lại quê hương bản quán, nhưng cũng không ít người ở lại Hà Nội. Ngược lại là những người Bắc di cư vào Nam năm 1954 cũng tìm về nơi gốc gác nhiều đời của gia đình dòng họ. Những người này hầu như chỉ còn giữ nguyên quán hoặc trên giấy tờ hoặc trong tâm khảm, nhưng chắc chắn họ không bao giờ có thể quên lãng nguồn cội.
Tôi đã chứng kiến không ít cảnh đoàn viên của những người thân sau các biến cố lớn phải xa cách nhau. Một người lính Hà Nội cùng đơn vị tôi, ngay khi Sài Gòn thất thủ, đã tìm đến được địa chỉ người thân.
Những giọt nước mắt tràn chảy cùng với những câu hỏi về người cùng cội rễ. Trong những lễ giỗ họ ở các làng quê, có rất nhiều người con phiêu bạt quay trở về thắp nén hương cho tiền nhân, tiên tổ. Đó còn là những số phận may mắn có cơ hội để tìm về được cái gốc một đời của mình.
Những người di tản ra nước ngoài biền biệt xa cách, nhưng nếu cởi bỏ được những gì ngăn cách trong chính lòng mình thì cơ hội cũng không phải là ít. Đất nước giờ đây đã mở rộng cửa để người Việt bốn phương được trở về hoặc thăm thú quê hương bản quán hoặc định cư trở lại.
Nguyên quán có thể là nơi ta không sinh ra nhưng cha ông ta từng “chôn nhau cắt rốn” ở đó. Nói một cách ngắn gọn, đấy là nơi gốc rễ, là quê, là quán, là nơi ta có thể trở về bất cứ lúc nào. Kể cả khi mãn nguyện cuộc đời, ta có quyền được về nơi đó yên nghỉ.

Đất nước đang cải cách hành chính nên có những thay đổi, trong đó không cấp mới sổ hộ khẩu giấy. Theo Thông tư 55/2021/TT-BCA, cụm từ nguyên quán không còn được dùng trong giấy tờ hộ tịch. Vì thế, nguyên quán cũng không còn được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành. Thêm vào đó, các làng xã đã được sáp nhập nhưng chỉ là cấp hành chính. Còn làng quê hồn cốt của mỗi người dân Việt với bề dày thời gian cùng lịch sử dòng họ, gia đình, con người vẫn vẹn nguyên, không hề mai một.
Viết đến đây, tôi giở tấm căn cước công dân mới cấp có gắn chip điện tử, mục quê quán đã thay cho nguyên quán. Sự thay đổi của thiết chế hành chính này không làm giảm đi ý nghĩa của nguyên quán thân thương. Tôi tin chẳng có ai và ở bất cứ hoàn cảnh nào lại không nhớ về nguyên quán của mình. Ai cũng có một nguyên quán yêu thương.
Khi ngắt ra khỏi nguồn mạch, con người ta sẽ lãng quên, sẽ mất đi nhiều thứ. Nguyên quán chính là nơi để ta tìm về, neo lại.
Lời nguyền nào rồi cũng có lời giải, thời gian và cuộc sống sớm hay muộn sẽ xóa nhòa mọi thứ và cuối cùng cái đích của đời người há chẳng phải là nơi gốc rễ của mình hay sao.
theo Vietnamnet
